Thiền ca – Tu viện Bích Nham

Thiền ca là những bài hát có công suất nuôi dưỡng chánh niệm và làm lớn lên niềm hạnh phúc cho người thực tập. Những bài hát nào khi hát lên ta cảm thấy thân tâm khỏe nhẹ, an lành và giúp ta trở lại tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm thì đều được gọi là thiền ca. Thiền ca là một sự góp sức của Tăng thân Làng Mai cho quy trình hiện đại hóa đạo Bụt. Lời của thiền ca được lấy ra từ những kinh văn và những bài xướng tán hoặc là những thiền ngữ hay những lời thơ, ý tứ của những hành giả, ghi lại những kinh nghiệm tay nghề và niềm an vui trong khi thực tập. Còn nhạc thì được diễn đạt bằng những giai điệu thanh thoát, sung sướng và giải thoát chứ không phải là thứ âm nhạc chứa nhiều chất ủy mị và hệ lụy mà người đời ưa sử dụng .
“ Thơ và nhạc của Làng Mai không vương vấn những nét sầu khổ và đau thương hoặc chán chường. Trái lại, thơ nhạc ở đây lành mạnh cao nghều và đầy vật liệu tâm linh ”. Đó là lời nhận xét của nhạc sĩ Anh Việt khi được tiếp xúc với thiền ca Làng Mai. Và khi cảm nhận được điều đó, nhạc sĩ đã chuyển hóa rất nhiều. Chúng ta hãy nghe nhạc sĩ nói thêm : “ suốt đời tôi, tôi đã sáng tác nhạc tình yêu và tranh đấu. Tiếp xúc được với căn nguyên tâm linh, từ mấy năm nay tôi đã khởi đầu sáng tác nhạc thiền. Thứ nhạc này đem lại cho tôi nhiều bình an, thảnh thơi và vững chải … ”
Nếu thiếu sự khám phá thấu đáo thì thấy việc dùng âm nhạc để diễn đạt lời kinh, ‎ ý kệ và giúp người thực tập duy trì, tăng trưởng chánh niệm là một điều mới lạ, và hoàn toàn có thể trở thành một điều khó gật đầu so với 1 số ít người. Nhưng nếu nhìn rõ hơn thì tăng thân Làng Mai chỉ làm việc làm tiếp nối chư vị tiền bối và góp thêm phần mình để cho sự thực tập này hợp với thời đại hơn thôi. Từ đầu thế kỉ thứ 3, tại Giao Châu, thiền sư Tăng Hội đã đem âm nhạc để phổ vào lời kinh và sáng tác ra một tác phẩm kinh nhạc lấy tên là Nê Hoàn Phạm Bối. Đó là tập nhạc kinh xuất hiện sớm nhất ở nước ta và cả ở châu Á. Và trong suốt tiến trình tăng trưởng của Phật Giáo nước nhà, chư vị tổ sư đã khôn khéo vận dụng âm nhạc của địa phương và thời đại mình để phổ vào lời kinh, tiếng kệ. Phổ biến nhất lúc bấy giờ ta phải nhắc đến những điệu tán rơi, tán xấp, tán trạo của những tự viện ở Huế. Những điệu tán này có nhiều nét tương đương với âm nhạc cung đình Huế. Ở miền Bắc cũng có những phương pháp tán tụng dựa theo những làn điệu xẩm, chầu văn và dân ca Bắc bộ. Miền Nam cũng vậy, cũng có hơi hướng của dân ca Nam bộ, cải lương, trong những giai điệu, nghi thức tán tụng. Điều này chứng tỏ tính nhu nhuyến và mong ước đem đạo Bụt đi vào cuộc sống của liệt vị tổ sư. Chính vì sự khôn khéo và tuệ giác của chư tổ nên kinh, kệ, giáo pháp không còn bó hẹp trong khoanh vùng phạm vi thiền môn mà đã đi vào dân chúng bằng con đường ÂM NHẠC .

Còn với thực trạng của thế kỉ 21 này, khi nền âm nhạc hiện đại phát triển rất mạnh mẽ và có xu hướng toàn cầu hóa, người trẻ được tiếp xúc nhiều với nền âm nhạc này mà ít có cơ hội tiếp xúc với dân ca, với dòng nhạc dân tộc cổ truyền. Cùng nhiều lí do khác, người trẻ không còn nhiều cảm tình với những phương cách tụng kinh của truyền thống. Nhìn rộng hơn, ta thấy người trẻ thời nay cũng có những biểu hiện cho thấy sự mất cảm tình với đạo Bụt trên nhiều phương diện. Với con mắt quán căn cơ, chúng ta phải tìm cho được những giải pháp để đạo Bụt vừa giữ được cốt lõi của sự thực tập nguyên thủy và giúp cho người trẻ có cơ duyên tiếp xúc với gốc rễ của nền văn hóa đạo học dân tộc mà vừa có những biểu hiện tươi tắn, khỏe mạnh hơn. Đừng để tương lai chùa chiền chỉ còn là nơi lui tới của các ông già, bà lão mong tìm được một nơi nương tựa cuối đời như câu thành ngữ của dân gian “trẻ vui nhà, già vui chùa”. Và thiền ca là một cống hiến bên cạnh hàng loạt các cống hiến tươi mới và đặc thù khác như các pháp môn: thiền ôm, thiền trà, làm mới, soi sáng, ái ngữ lắng nghe… Các pháp môn này không những không làm mất đi tinh thần thiền tập nguyên thủy và căn bản của đạo Bụt mà còn làm cho sự thực tập trở nên vui tươi, mới mẻ và dễ dàng giải quyết những khổ đau thực tế của người trẻ hơn.

Về yếu tố thực tập, khi hát một bài thiền ca ta không hề hát như một bài hát tiêu khiển ngoài đời, ta phải hát bằng toàn bộ sự thực tập của mình. Thiền ca phải được nhận thức tráng lệ như những thực tập thiền ngồi, thiền hành, ăn cơm tĩnh mịch. Dù đứng hay ngồi ta cũng cần giữ thái độ tráng lệ và uy nghi khi hát một bài thiền ca hay tụng một bài nhạc kinh. Và một điều rất quan trọng phải ghi nhớ là ta phải thực tập ngay trong lúc hát. Ví dụ ta hát câu “ ta niềm hạnh phúc liền tích tắc này, lòng đã quyết dứt hết âu lo ” thì lúc đó khuôn mặt ta phải vui tươi, âm điệu ta phải hân hoan, và nhất là tâm ta phải thực sự xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn hiện tại để buông bỏ những ưu sầu lo ngại, để tiếp xúc được với niềm hạnh phúc chân thực do chánh niệm đem tới. Hoặc khi tụng câu “ con xin đem ba nghiệp thanh tịnh kính lạy toàn bộ hằng sa Bụt ” ta phải chắp tay tôn kính và mở lòng ra để lời kinh đi vào thức tỉnh những hạt giống tuệ giác trong tâm ta .

Các bài thiền ca có thể được hát lên trước các buổi sinh hoạt chánh niệm như thiền hành, pháp thoại, pháp đàm… Thiền ca còn được sử dụng trong các buổi sinh hoạt cộng đồng như văn nghệ, lửa trại. Với thiền ca văn nghệ không còn mang tính tiêu khiển trần tục mà trở thành thứ văn nghệ có tính cách nuôi dưỡng và trị liệu. Khi đó văn nghệ là văn lang (văn: trong sáng lành mạnh, lang: chữa lành).

Thiền ca được những thầy, những sư cô và những vị cư sĩ thuộc những tu viện và đạo tràng tăng thân Làng Mai thực tập rất tiếp tục. Và nó cũng đang giúp cho biết bao nhiêu người tìm lại được niềm hạnh phúc và an lành trong mỗi câu hát, câu thơ chánh niệm .

Hy vọng với sự thực tập hết lòng chúng ta sẽ làm được như lời cầu nguyện của Thầy chúng ta “Để pháp âm tiếp nối bằng lời ca tiếng hát em thơ” .

Share this:

Source: https://nhacchuong.net
Category: Bảng xếp hạng nhạc chuông

1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars (No Ratings Yet)
Loading...

Trả lời

Liên hệ với chúng tôi

Some text some message..