Duncan Laurence – Wikipedia tiếng Việt

Duncan de Moor (sinh ngày 11 tháng 4 năm 1994),[1] hay được biết đến là Duncan Laurence, là một ca sĩ kiêm người viết bài hát người Hà Lan. Anh đại diện nước Hà Lan trong cuộc thi Eurovision Song Contest 2019 với ca khúc “Arcade” và trở thành người chiến thắng của cuộc thi.[2][3] Trước khi tham gia cuộc thi Eurovision, Laurence lọt đến vòng bán kết trong mùa thứ 5 của The Voice of Holland.

Buổi đầu sự nghiệp[sửa|sửa mã nguồn]

Sinh ra tại Spijkenisse, Laurence lớn lên ở Hellevoetsluis. Anh khởi đầu sự nghiệp âm nhạc tại học viện chuyên nghành Rock Academy ở Tilburg. Ở đây, anh chơi nhạc cho một số ít ban nhạc của trường, [ 1 ] trong đó có ban nhạc của chính anh, The Slick and Suited. Được xây dựng vào năm 2013, ban nhạc đã màn biểu diễn tại Eurosonic Noorderslag. [ 4 ] [ 5 ]

2014–18: The Voice of Holland

[sửa|sửa mã nguồn]

Laurence đã tham gia mùa thứ 5 của chương trình The Voice of Holland, lựa chọn Ilse DeLange là huấn luyện viên. Anh tiến vào đến vòng Loại Chéo/Bán kết trước khi bị loại khỏi cuộc thi.[6] Anh tốt nghiệp Rock Academy vào năm 2017.[7] Cùng với Jihad Rahmouni, anh đã viết bài hát “Closer” trong album phát hành năm 2018 của bộ đôi K-pop TVXQ New Chapter #1: The Chance of Love.[8]

2019 : Eurovision Song Contest[sửa|sửa mã nguồn]

Vào tháng 1 năm 2019, Laurence được lựa chọn để đại diện cho Hà Lan trong cuộc thi Eurovision Song Contest 2019. Bài hát “Arcade” của anh lần đầu được tiết lộ vào tháng 3 năm 2019. Ngày 19 tháng 5 năm 2019, Laurence giành chiến thắng sự kiện tại Tel Aviv, Israel với 492 điểm từ 41 giám khảo quốc tế và từ bình chọn của khán giả. Các giám khảo chấm màn trình diễn đạt 231 điểm, trong khi bình chọn công khai của khán giả đã đem về cho anh thêm 261 điểm. Anh đạt vị trí quán quân với 27 điểm cao hơn đại diện của Ý và 123 điểm cao hơn đại diện của Nga, hai quốc gia xếp ở vị trí ngay sau đó. Anh là đại diện thứ năm của Hà Lan giành chiến thắng cuộc thi, và cũng là đại diện đầu tiên thắng cuộc kể từ khi Teach-In chiến thắng tại Eurovision Song Contest 1975 với ca khúc “Ding-a-dong”.[9]

Trong một cuộc họp báo ngay trước trận chung kết Eurovision, Laurence công khai minh bạch là người tuy nhiên tính : ” Tôi còn nhiều hơn cả một nghệ sĩ, tôi là một người, tôi là một sinh vật sống, tôi là người tuy nhiên tính, tôi là một nhạc sĩ, tôi đại diện thay mặt cho mọi thứ. Và tôi tự hào rằng tôi có thời cơ để bộc lộ mình là gì, là ai. ” [ 10 ]

Danh sách đĩa nhạc[sửa|sửa mã nguồn]

  • Small Town Boy (2020)
  • Worlds on Fire (EP) (2020)

Với tư cách nhạc sĩ chính[sửa|sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Chứng nhận Album
NL
[ 11 ]
BEL
( FL ) [ 12 ]
BEL
( WA ) [ 13 ]
CAN
[ 14 ]
GER
[ 15 ]
IRE

[16]

NOR
[ 17 ]
SWE
[ 18 ]
UK
[ 19 ]
US
[ 20 ]
“Arcade” 2019 1 2 31 45 26 23 10 6 29 30
  • NVPI: 4× Bạch kim[21]
  • ARIA: Bạch kim[22]
  • BEA: Bạch kim[23]
  • BPI: Bạc[24]
  • GLF: Vàng[25]
  • IFPI NOR: Vàng[26]
  • MC: Bạch kim[27]
  • RIAA: Bạch kim[28]
Small Town Boy
“Love Don’t Hate It” 41 53
  • NVPI: Vàng[29]
“Someone Else” 2020 72 86 93
“Last Night”
“Stars” 2021 86

Với tư cách nhạc sĩ khách mời[sửa|sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Album
NL
[ 11 ]
BEL
( FL ) [ 12 ]
“Feel Something”
Armin van Buuren ft. Duncan Laurence)
2020 85 78 Small Town Boy and Euthymia
“Back to Back”

(Wrabel ft. Duncan Laurence)

2021 These Words Are All for You
Tựa đề Năm Nghệ sĩ hợp tác Album
“Laat Gaan”[30] 2017 Sjors van der Panne Met Elkaar

Bài hát thuộc album nhạc phim[sửa|sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Album
“Heaven Is a Hand to Hold” 2021 Love, Victor: Season 2

Trao Giải và đề cử[sửa|sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Kết quả
2019 Giải Marcel Bezençon Giải thưởng Báo chí[31] Đoạt giải

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Source: https://nhacchuong.net
Category: Bảng xếp hạng nhạc chuông

1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars (No Ratings Yet)
Loading...

Trả lời

Liên hệ với chúng tôi

Some text some message..